Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.
Bài học
Giao thoa hai nguồn lệch pha
Mục tiêu bài học
Sau bài này, em tự suy điều kiện cực đại–cực tiểu khi hai nguồn có độ lệch pha bất kì và đếm đúng nghiệm trên đoạn nối nguồn.
Kiến thức cần có
Cần biết pha của sóng truyền, hiệu đường đi, điều kiện hai dao động cùng pha và cách đếm nghiệm nguyên trong một đoạn.
**Mở rộng dành cho HSG.** YCCĐ Vật lí 11 yêu cầu giao thoa hai nguồn quen thuộc, sóng dừng với đầu cố định/tự do và bài âm truyền trong một môi trường. Khóa này đi xa hơn: nguồn lệch pha, ba nguồn đồng bộ, pha phản xạ không chuẩn, điểm quan sát chuyển động và hai đường truyền cùng lúc. Mỗi công thức đều được suy từ pha hoặc thời gian truyền; không dùng một điều kiện học thuộc cho mọi cấu hình. Tiền đề là Course 1–2, lượng giác, căn thức và phương trình đại số lớp 10–11.
Câu hỏi mở đầu
Hai nguồn lệch nhau π/2: vì sao trung trực không còn chắc chắn là vân cực đại?
Ý tưởng cốt lõi
Chọn $\Delta\varphi_0=\varphi_2-\varphi_1$ và $\Delta d=d_2-d_1$. Pha tại M của sóng i là $\varphi_i-2\pi d_i/\lambda$, nên hiệu pha đến là $\Delta\varphi_M=\Delta\varphi_0-2\pi\Delta d/\lambda$. Cực đại khi $\Delta\varphi_M=2n\pi$, do đó $\Delta d=(\Delta\varphi_0/2\pi-n)\lambda$. Đổi tên số nguyên cho phép viết dạng tương đương $(k+\Delta\varphi_0/2\pi)\lambda$. Điều quan trọng là dùng cùng một quy ước dấu từ đầu tới cuối.
Điều kiện được suy từ pha thay vì học thuộc một công thức cùng pha.
Đào sâu và chuyển giao
Trên đoạn $S_1S_2$ dài L, đặt $x=S_1M$ thì $d_1=x$, $d_2=L-x$, nên $\Delta d=L-2x$. Mỗi nghiệm nguyên cho một vị trí; điều kiện $0\le x\le L$ quyết định số nghiệm. Nếu điểm trùng nguồn bị loại, phải loại sau khi giải chứ không thu hẹp tùy tiện trước. Cực tiểu thu được khi hiệu pha đến bằng $(2n+1)\pi$, vì vậy họ nghiệm dịch thêm nửa bước sóng so với cực đại.
Độ lệch pha nguồn có thể được quy thành một “hiệu đường đi tương đương” $\Delta d_0=\lambda\Delta\varphi_0/(2\pi)$. Cách nhìn này giúp so sánh nhanh: π/2 tương ứng λ/4; π tương ứng λ/2. Tuy nhiên đây chỉ là công cụ pha, không phải nguồn thật sự dịch chuyển trong không gian. Khi biên độ hai nguồn khác nhau, vị trí cực đại pha vẫn như cũ nhưng biên độ cực tiểu không nhất thiết bằng 0.
Bài chuẩn chỉ nhớ $d_2-d_1=k\lambda$ cho hai nguồn cùng pha. Bài HSG bắt em dựng lại từ pha, đếm nghiệm trong miền hữu hạn và giữ dấu nhất quán. Một kiểm nhanh: khi $\Delta\varphi_0\to0$, họ nghiệm phải trở về bội nguyên của λ. Nếu không, lỗi nằm ở dấu truyền pha hoặc bước đổi tên số nguyên.
Bản đồ phương pháp
Bản đồ chung của bài sóng gồm bốn dòng: chọn mốc pha tại nguồn; viết pha đến điểm xét $\varphi_i-2\pi d_i/\lambda$; lấy hiệu pha theo đúng thứ tự; rồi áp điều kiện cực đại, cực tiểu hoặc biên phản xạ. Với bài đo thời gian, thay pha bằng timeline phát–truyền–nhận và viết một phương trình cho mỗi đường truyền. Dấu của hiệu không quan trọng nếu điều kiện được đổi nhất quán, nhưng trộn hai quy ước giữa chừng sẽ làm lệch nửa bước sóng.
Hướng dẫn giải
Trong **Hướng dẫn giải**, nêu hệ nguồn, trục hoặc miền chuyển động trước; ghi điều kiện giao thoa bằng chữ; đánh số phương trình dùng lại; kiểm nghiệm nguyên, miền vị trí và đơn vị. Bài có nhiều nghiệm phải liệt kê theo thứ tự và loại điểm trùng nguồn nếu mô hình không xét tại nguồn. Mỗi phần kết thúc bằng “Vậy …”, kèm số điểm, vị trí, tần số hoặc vận tốc theo đúng yêu cầu.
Kiểm ngược
Kiểm ngược bằng một giới hạn độc lập: cho lệch pha nguồn về 0 phải thu lại $\Delta d=k\lambda$; cho pha phản xạ lệch về 0 phải thu lại $L=n\lambda/2$; tại trung trực hai nguồn cùng pha phải là cực đại; tăng độ cao đường quan sát phải làm vị trí cực đại ngoài trục dịch xa hơn; vận tốc môi trường nhanh hơn phải cho thời gian đến nhỏ hơn.
Error-log
Error-log phân biệt: sai quy ước hiệu pha, bỏ điều kiện nguyên, dùng công thức hai đầu cố định cho biên mềm, giải căn nhưng không kiểm miền, hay lấy $\Delta t=L/(v_2-v_1)$. Mỗi lỗi đi kèm thao tác sửa, chẳng hạn viết hai thời gian riêng $t_i=L/v_i$ rồi mới trừ. “Nhớ nhầm công thức” chưa đủ; phải ghi công thức đã được dùng ngoài cấu hình nào.
Ví dụ
Mười cực đại trên đoạn 20 cm
1
Hai nguồn cách 20 cm, cùng biên độ, $\varphi_2-\varphi_1=\pi/2$, $\lambda=4$ cm. Tìm các cực đại trên đoạn, không kể hai nguồn.
2
Điều kiện kλ của nguồn cùng pha bị dịch λ/4 và phải đếm nghiệm theo miền.
3
Đặt x từ S1, suy Δd=(k+1/4)λ rồi giải bất đẳng thức cho k.
4
Theo điều kiện cùng pha tại M, $d_2-d_1=(k+1/4)\lambda=4k+1$ cm. Trên đoạn, $d_2-d_1=20-2x$. Do đó $20-2x=4k+1$, suy ra $x=9{,}5-2k$ cm. Điều kiện $0<x<20$ cho $k=-5,-4,\ldots,4$. Các vị trí theo thứ tự tăng là 1,5; 3,5; …; 19,5 cm, gồm 10 điểm. Vậy có 10 cực đại, cách nhau 2 cm và không điểm nào trùng nguồn.
5
Tại x=9,5 cm, hiệu đường đi 1 cm = λ/4, vừa bù lệch pha π/2.
6
Đổi dấu lệch pha làm họ vị trí đối xứng qua trung điểm.
Ví dụ
Nguồn ngược pha trên đoạn 18 cm
1
Hai nguồn cách 18 cm, ngược pha, $\lambda=3$ cm. Tìm số cực đại nằm trong đoạn mở.
2
Nguồn ngược pha làm cực đại xuất hiện tại hiệu đường đi bán nguyên λ.
3
Dùng $18-2x=(k+1/2)3$ và đếm nghiệm.
4
Vì $\Delta\varphi_0=\pi$, cực đại thỏa $d_2-d_1=(k+1/2)\lambda=3k+1{,}5$. Suy ra $x=8{,}25-1{,}5k$ cm. Điều kiện $0<x<18$ cho $k=-6,-5,\ldots,5$, tức 12 nghiệm. Các điểm đầu–cuối là 0,75 cm và 17,25 cm. Vậy đoạn mở có 12 cực đại.
5
Khoảng cách giữa hai cực đại liên tiếp trên đoạn nối nguồn là λ/2 = 1,5 cm.
6
Nếu hai nguồn cùng pha, trung điểm trở thành cực đại và số nghiệm có thể đổi.
Luyện tập có hướng dẫn
Tự luyện và thử thách
Lỗi thường gặp
Không trộn dấu Δd; không dùng kλ cho nguồn lệch pha; không đếm nghiệm nguyên trước khi áp miền.
Chốt bài: Em đã tự suy điều kiện cực đại–cực tiểu khi hai nguồn có độ lệch pha bất kì và đếm đúng nghiệm trên đoạn nối nguồn. Bài sau mở rộng từ một cặp nguồn sang điều kiện đồng pha đồng thời của ba nguồn.
Mở rộng dành cho HSG. YCCĐ Vật lí 11 yêu cầu giao thoa hai nguồn quen thuộc, sóng dừng với đầu cố định/tự do và bài âm truyền trong một môi trường. Khóa này đi xa hơn: nguồn lệch pha, ba nguồn đồng bộ, pha phản xạ không chuẩn, điểm quan sát chuyển động và hai đường truyền cùng lúc. Mỗi công thức đều được suy từ pha hoặc thời gian truyền; không dùng một điều kiện học thuộc cho mọi cấu hình. Tiền đề là Course 1–2, lượng giác, căn thức và phương trình đại số lớp 10–11.
Chọn Δφ0=φ2−φ1 và Δd=d2−d1. Pha tại M của sóng i là φi−2πdi/λ, nên hiệu pha đến là ΔφM=Δφ0−2πΔd/λ. Cực đại khi ΔφM=2nπ, do đó Δd=(Δφ0/2π−n)λ. Đổi tên số nguyên cho phép viết dạng tương đương (k+Δφ0/2π)λ. Điều quan trọng là dùng cùng một quy ước dấu từ đầu tới cuối.
Trên đoạn S1S2 dài L, đặt x=S1M thì d1=x, d2=L−x, nên Δd=L−2x. Mỗi nghiệm nguyên cho một vị trí; điều kiện 0≤x≤L quyết định số nghiệm. Nếu điểm trùng nguồn bị loại, phải loại sau khi giải chứ không thu hẹp tùy tiện trước. Cực tiểu thu được khi hiệu pha đến bằng (2n+1)π, vì vậy họ nghiệm dịch thêm nửa bước sóng so với cực đại.
Độ lệch pha nguồn có thể được quy thành một “hiệu đường đi tương đương” Δd0=λΔφ0/(2π). Cách nhìn này giúp so sánh nhanh: π/2 tương ứng λ/4; π tương ứng λ/2. Tuy nhiên đây chỉ là công cụ pha, không phải nguồn thật sự dịch chuyển trong không gian. Khi biên độ hai nguồn khác nhau, vị trí cực đại pha vẫn như cũ nhưng biên độ cực tiểu không nhất thiết bằng 0.
Bài chuẩn chỉ nhớ d2−d1=kλ cho hai nguồn cùng pha. Bài HSG bắt em dựng lại từ pha, đếm nghiệm trong miền hữu hạn và giữ dấu nhất quán. Một kiểm nhanh: khi Δφ0→0, họ nghiệm phải trở về bội nguyên của λ. Nếu không, lỗi nằm ở dấu truyền pha hoặc bước đổi tên số nguyên.
Bản đồ chung của bài sóng gồm bốn dòng: chọn mốc pha tại nguồn; viết pha đến điểm xét φi−2πdi/λ; lấy hiệu pha theo đúng thứ tự; rồi áp điều kiện cực đại, cực tiểu hoặc biên phản xạ. Với bài đo thời gian, thay pha bằng timeline phát–truyền–nhận và viết một phương trình cho mỗi đường truyền. Dấu của hiệu không quan trọng nếu điều kiện được đổi nhất quán, nhưng trộn hai quy ước giữa chừng sẽ làm lệch nửa bước sóng.
Trong Hướng dẫn giải, nêu hệ nguồn, trục hoặc miền chuyển động trước; ghi điều kiện giao thoa bằng chữ; đánh số phương trình dùng lại; kiểm nghiệm nguyên, miền vị trí và đơn vị. Bài có nhiều nghiệm phải liệt kê theo thứ tự và loại điểm trùng nguồn nếu mô hình không xét tại nguồn. Mỗi phần kết thúc bằng “Vậy …”, kèm số điểm, vị trí, tần số hoặc vận tốc theo đúng yêu cầu.
Kiểm ngược bằng một giới hạn độc lập: cho lệch pha nguồn về 0 phải thu lại Δd=kλ; cho pha phản xạ lệch về 0 phải thu lại L=nλ/2; tại trung trực hai nguồn cùng pha phải là cực đại; tăng độ cao đường quan sát phải làm vị trí cực đại ngoài trục dịch xa hơn; vận tốc môi trường nhanh hơn phải cho thời gian đến nhỏ hơn.
Error-log phân biệt: sai quy ước hiệu pha, bỏ điều kiện nguyên, dùng công thức hai đầu cố định cho biên mềm, giải căn nhưng không kiểm miền, hay lấy Δt=L/(v2−v1). Mỗi lỗi đi kèm thao tác sửa, chẳng hạn viết hai thời gian riêng ti=L/vi rồi mới trừ. “Nhớ nhầm công thức” chưa đủ; phải ghi công thức đã được dùng ngoài cấu hình nào.
Hai nguồn cách 20 cm, cùng biên độ, φ2−φ1=π/2, λ=4 cm. Tìm các cực đại trên đoạn, không kể hai nguồn.
Theo điều kiện cùng pha tại M, d2−d1=(k+1/4)λ=4k+1 cm. Trên đoạn, d2−d1=20−2x. Do đó 20−2x=4k+1, suy ra x=9,5−2k cm. Điều kiện 0<x<20 cho k=−5,−4,…,4. Các vị trí theo thứ tự tăng là 1,5; 3,5; …; 19,5 cm, gồm 10 điểm. Vậy có 10 cực đại, cách nhau 2 cm và không điểm nào trùng nguồn.
Hai nguồn cách 18 cm, ngược pha, λ=3 cm. Tìm số cực đại nằm trong đoạn mở.
Dùng 18−2x=(k+1/2)3 và đếm nghiệm.
Vì Δφ0=π, cực đại thỏa d2−d1=(k+1/2)λ=3k+1,5. Suy ra x=8,25−1,5k cm. Điều kiện 0<x<18 cho k=−6,−5,…,5, tức 12 nghiệm. Các điểm đầu–cuối là 0,75 cm và 17,25 cm. Vậy đoạn mở có 12 cực đại.