Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.
Bài học
Hệ thức Vi-ét và ứng dụng nhẩm nghiệm
Mục tiêu bài học
Sau bài này, em phát biểu đúng hệ thức Vi-ét $x_1+x_2=-\dfrac ba$ và $x_1x_2=\dfrac ca$ cho phương trình bậc hai có nghiệm, dùng hệ thức đó để tính tổng, tích, và một số biểu thức đối xứng của hai nghiệm mà không cần giải phương trình, đồng thời nhẩm nhanh nghiệm khi $a+b+c=0$ hoặc $a-b+c=0$.
Kiến thức nền cần nhớ
Hệ thức Vi-ét chỉ áp dụng được cho phương trình ĐÃ CÓ nghiệm, nên em cần nhớ lại điều kiện Δ ≥ 0 (hoặc Δ′ ≥ 0) của hai bài trước — nếu chưa kiểm tra điều kiện này mà đã vội tính tổng, tích, kết luận có thể sai hoàn toàn, vì một phương trình vô nghiệm thì không hề có x₁, x₂ để nói đến tổng hay tích. Em cũng cần thành thạo phép cộng, nhân phân số, vì −b/a và c/a thường không phải số nguyên, và cần nhớ lại các hằng đẳng thức đáng nhớ lớp 8 như $(a+b)^2=a^2+2ab+b^2$ — nhiều biểu thức đối xứng của nghiệm sẽ cần biến đổi qua chính những hằng đẳng thức này.
Khởi động
Phương trình $2x^2-7x+3=0$ giải ra hai nghiệm $x_1=3$ và $x_2=0,5$. Cộng lại: $3+0,5=3,5$. Nhân lại: $3\times0,5=1,5$. So sánh với hai tỉ số của hệ số: $-b/a=7/2=3,5$ và $c/a=3/2=1,5$ — trùng khớp hoàn toàn với tổng và tích vừa tính. Đây có phải quy luật đúng với mọi phương trình bậc hai có nghiệm, hay chỉ là sự trùng hợp của riêng phương trình này?
Kiến thức trọng tâm
Nếu phương trình $ax^2+bx+c=0$ ($a\ne0$) có hai nghiệm $x_1, x_2$ (kể cả trường hợp nghiệm kép, khi đó $x_1=x_2$), thì $x_1+x_2=-\dfrac ba$ và $x_1x_2=\dfrac ca$ — đây là hệ thức Vi-ét, mang tên nhà toán học Pháp François Viète. Có thể kiểm chứng bằng chính công thức nghiệm: cộng hai nghiệm $\dfrac{-b+\sqrt\Delta}{2a}$ và $\dfrac{-b-\sqrt\Delta}{2a}$, phần $\sqrt\Delta$ triệt tiêu, chỉ còn $\dfrac{-2b}{2a}=-\dfrac ba$; nhân hai nghiệm lại, hiệu hai bình phương $(-b)^2-\Delta$ rút gọn đúng thành $4ac$, chia cho $4a^2$ ra $\dfrac ca$. Hai kết quả này đúng với MỌI phương trình bậc hai có nghiệm — không phụ thuộc hệ số cụ thể là bao nhiêu, nên em có thể dùng chúng như một công thức có sẵn, không cần lặp lại phép biến đổi mỗi lần áp dụng.
Điều đáng chú ý nhất của hệ thức Vi-ét là nó cho tổng và tích mà KHÔNG cần biết từng nghiệm cụ thể là bao nhiêu — rất hữu ích khi đề chỉ hỏi một biểu thức của x₁, x₂ chứ không hỏi nghiệm. Ngược lại, hệ thức này cũng giúp NHẨM nghiệm nhanh trong hai trường hợp đặc biệt. Trường hợp thứ nhất: nếu $a+b+c=0$, thay $x=1$ vào phương trình sẽ ra đúng $a+b+c=0$ — tức $x=1$ luôn là một nghiệm; nghiệm còn lại tính ngay theo tích, $x_2=\dfrac ca$ (vì $x_1x_2=c/a$ mà $x_1=1$).
Trường hợp thứ hai: nếu $a-b+c=0$, thay $x=-1$ vào phương trình cho $a(-1)^2+b(-1)+c=a-b+c=0$, nên $x=-1$ là một nghiệm; nghiệm còn lại là $x_2=-\dfrac ca$ (dấu trừ vì $x_1=-1$ nên $x_1x_2=-x_2=c/a$, suy ra $x_2=-c/a$). Hai trường hợp này xuất hiện rất thường xuyên trong đề thi — chỉ cần cộng nhanh a, b, c (hoặc a, −b, c) là biết ngay có nhẩm được nghiệm hay không, khỏi cần tính Δ.
Ví dụ minh hoạ
Ví dụ
Tính tổng và tích hai nghiệm mà không giải phương trình
1
Không giải phương trình, tính $x_1+x_2$ và $x_1x_2$ của $2x^2-7x+3=0$.
2
$a=2,\ b=-7,\ c=3$. $\Delta=49-24=25>0$ nên phương trình có hai nghiệm.
Tìm nghiệm của phương trình $x^2-5x+4=0$ bằng cách nhẩm.
2
$a=1,\ b=-5,\ c=4$: $a+b+c=1-5+4=0$.
3
Vì $a+b+c=0$, phương trình có nghiệm $x_1=1$.
4
$x_1x_2=\dfrac ca=4$, mà $x_1=1$ nên $x_2=4$.
5
Vậy phương trình có hai nghiệm $x_1=1$ và $x_2=4$.
Ví dụ
Chứng minh phương trình luôn nhẩm được nghiệm với mọi tham số
1
Cho phương trình $x^2-(m+1)x+m=0$ (m là tham số). Chứng minh phương trình luôn có nghiệm x = 1 với mọi m, và tìm nghiệm còn lại.
2
$a=1,\ b=-(m+1),\ c=m$: $a+b+c=1-(m+1)+m=1-m-1+m=0$ với mọi m. (1)
3
Từ (1), theo hệ thức Vi-ét dạng nhẩm nghiệm, $x=1$ luôn là một nghiệm của phương trình với mọi giá trị của m.
4
$x_1x_2=\dfrac ca=m$, mà $x_1=1$ nên $x_2=m$.
5
Vậy phương trình luôn có nghiệm $x_1=1$ với mọi m, nghiệm còn lại là $x_2=m$.
Ví dụ
Tính một biểu thức đối xứng của hai nghiệm
1
Không giải phương trình, tính $x_1^2+x_2^2$ của $x^2-4x+2=0$.
2
$\Delta=16-8=8>0$ nên phương trình có hai nghiệm.
3
$x_1+x_2=4$, $x_1x_2=2$.
4
Theo hằng đẳng thức $(x_1+x_2)^2=x_1^2+2x_1x_2+x_2^2$, suy ra $x_1^2+x_2^2=(x_1+x_2)^2-2x_1x_2=4^2-2\cdot2=16-4=12$.
5
Vậy $x_1^2+x_2^2=12$.
Luyện tập có hướng dẫn
Luyện tập độc lập
Sai lầm thường gặp
Lỗi hay gặp nhất: dùng hệ thức Vi-ét mà quên kiểm tra phương trình có nghiệm hay không trước. Với Δ < 0, phương trình vô nghiệm trên tập số thực — không hề tồn tại x₁, x₂ để nói đến tổng hay tích, nên áp dụng công thức −b/a, c/a lúc này vô nghĩa dù các con số vẫn tính ra được. Lỗi thứ hai: nhầm dấu trong hai công thức nhẩm nghiệm — khi a − b + c = 0 thì nghiệm là x = −1 (không phải x = 1), và nghiệm còn lại mang dấu trừ trước c/a; còn khi a + b + c = 0 mới là x = 1 và nghiệm kia là c/a không có dấu trừ. Hai công thức trông giống nhau nhưng dấu khác hẳn.
Kiểm tra nhanh
Ghi nhớ
Với $ax^2+bx+c=0$ có nghiệm ($\Delta\ge0$): $x_1+x_2=-b/a$, $x_1x_2=c/a$. Nếu $a+b+c=0$, một nghiệm là x = 1, nghiệm kia là c/a. Nếu a − b + c = 0, một nghiệm là x = −1, nghiệm kia là −c/a. Hệ thức Vi-ét cho phép tính nhiều biểu thức đối xứng của x₁, x₂ (như x₁²+x₂², 1/x₁+1/x₂) mà không cần giải phương trình.
Hệ thức Vi-ét đi từ nghiệm suy ra tổng và tích. Bài sau đi theo chiều ngược lại: biết tổng và tích của hai số, làm sao dựng lại chính hai số đó?
Sau bài này, em phát biểu đúng hệ thức Vi-ét x1+x2=−ab và x1x2=ac cho phương trình bậc hai có nghiệm, dùng hệ thức đó để tính tổng, tích, và một số biểu thức đối xứng của hai nghiệm mà không cần giải phương trình, đồng thời nhẩm nhanh nghiệm khi a+b+c=0 hoặc a−b+c=0.
Hệ thức Vi-ét chỉ áp dụng được cho phương trình ĐÃ CÓ nghiệm, nên em cần nhớ lại điều kiện Δ ≥ 0 (hoặc Δ′ ≥ 0) của hai bài trước — nếu chưa kiểm tra điều kiện này mà đã vội tính tổng, tích, kết luận có thể sai hoàn toàn, vì một phương trình vô nghiệm thì không hề có x₁, x₂ để nói đến tổng hay tích. Em cũng cần thành thạo phép cộng, nhân phân số, vì −b/a và c/a thường không phải số nguyên, và cần nhớ lại các hằng đẳng thức đáng nhớ lớp 8 như (a+b)2=a2+2ab+b2 — nhiều biểu thức đối xứng của nghiệm sẽ cần biến đổi qua chính những hằng đẳng thức này.
Phương trình 2x2−7x+3=0 giải ra hai nghiệm x1=3 và x2=0,5. Cộng lại: 3+0,5=3,5. Nhân lại: 3×0,5=1,5. So sánh với hai tỉ số của hệ số: −b/a=7/2=3,5 và c/a=3/2=1,5 — trùng khớp hoàn toàn với tổng và tích vừa tính. Đây có phải quy luật đúng với mọi phương trình bậc hai có nghiệm, hay chỉ là sự trùng hợp của riêng phương trình này?
Nếu phương trình ax2+bx+c=0 (a=0) có hai nghiệm x1,x2 (kể cả trường hợp nghiệm kép, khi đó x1=x2), thì x1+x2=−ab và x1x2=ac — đây là hệ thức Vi-ét, mang tên nhà toán học Pháp François Viète. Có thể kiểm chứng bằng chính công thức nghiệm: cộng hai nghiệm 2a−b+Δ và 2a−b−Δ, phần Δ triệt tiêu, chỉ còn 2a−2b=−ab; nhân hai nghiệm lại, hiệu hai bình phương (−b)2−Δ rút gọn đúng thành 4ac, chia cho 4a2 ra ac. Hai kết quả này đúng với MỌI phương trình bậc hai có nghiệm — không phụ thuộc hệ số cụ thể là bao nhiêu, nên em có thể dùng chúng như một công thức có sẵn, không cần lặp lại phép biến đổi mỗi lần áp dụng.
Điều đáng chú ý nhất của hệ thức Vi-ét là nó cho tổng và tích mà KHÔNG cần biết từng nghiệm cụ thể là bao nhiêu — rất hữu ích khi đề chỉ hỏi một biểu thức của x₁, x₂ chứ không hỏi nghiệm. Ngược lại, hệ thức này cũng giúp NHẨM nghiệm nhanh trong hai trường hợp đặc biệt. Trường hợp thứ nhất: nếu a+b+c=0, thay x=1 vào phương trình sẽ ra đúng a+b+c=0 — tức x=1 luôn là một nghiệm; nghiệm còn lại tính ngay theo tích, x2=ac (vì x1x2=c/a mà x1=1).
Trường hợp thứ hai: nếu a−b+c=0, thay x=−1 vào phương trình cho a(−1)2+b(−1)+c=a−b+c=0, nên x=−1 là một nghiệm; nghiệm còn lại là x2=−ac (dấu trừ vì x1=−1 nên x1x2=−x2=c/a, suy ra x2=−c/a). Hai trường hợp này xuất hiện rất thường xuyên trong đề thi — chỉ cần cộng nhanh a, b, c (hoặc a, −b, c) là biết ngay có nhẩm được nghiệm hay không, khỏi cần tính Δ.
Không giải phương trình, tính x1+x2 và x1x2 của 2x2−7x+3=0.
a=2,b=−7,c=3. Δ=49−24=25>0 nên phương trình có hai nghiệm.
x1+x2=−2−7=3,5; x1x2=23=1,5.
Vậy x1+x2=3,5 và x1x2=1,5.
Tìm nghiệm của phương trình x2−5x+4=0 bằng cách nhẩm.
a=1,b=−5,c=4: a+b+c=1−5+4=0.
Vì a+b+c=0, phương trình có nghiệm x1=1.
x1x2=ac=4, mà x1=1 nên x2=4.
Vậy phương trình có hai nghiệm x1=1 và x2=4.
Cho phương trình x2−(m+1)x+m=0 (m là tham số). Chứng minh phương trình luôn có nghiệm x = 1 với mọi m, và tìm nghiệm còn lại.
a=1,b=−(m+1),c=m: a+b+c=1−(m+1)+m=1−m−1+m=0 với mọi m. (1)
Từ (1), theo hệ thức Vi-ét dạng nhẩm nghiệm, x=1 luôn là một nghiệm của phương trình với mọi giá trị của m.
x1x2=ac=m, mà x1=1 nên x2=m.
Vậy phương trình luôn có nghiệm x1=1 với mọi m, nghiệm còn lại là x2=m.
Không giải phương trình, tính x12+x22 của x2−4x+2=0.
Δ=16−8=8>0 nên phương trình có hai nghiệm.
x1+x2=4, x1x2=2.
Theo hằng đẳng thức (x1+x2)2=x12+2x1x2+x22, suy ra x12+x22=(x1+x2)2−2x1x2=42−2⋅2=16−4=12.
Vậy x12+x22=12.
Lỗi hay gặp nhất: dùng hệ thức Vi-ét mà quên kiểm tra phương trình có nghiệm hay không trước. Với Δ < 0, phương trình vô nghiệm trên tập số thực — không hề tồn tại x₁, x₂ để nói đến tổng hay tích, nên áp dụng công thức −b/a, c/a lúc này vô nghĩa dù các con số vẫn tính ra được. Lỗi thứ hai: nhầm dấu trong hai công thức nhẩm nghiệm — khi a − b + c = 0 thì nghiệm là x = −1 (không phải x = 1), và nghiệm còn lại mang dấu trừ trước c/a; còn khi a + b + c = 0 mới là x = 1 và nghiệm kia là c/a không có dấu trừ. Hai công thức trông giống nhau nhưng dấu khác hẳn.
Với ax2+bx+c=0 có nghiệm (Δ≥0): x1+x2=−b/a, x1x2=c/a. Nếu a+b+c=0, một nghiệm là x = 1, nghiệm kia là c/a. Nếu a − b + c = 0, một nghiệm là x = −1, nghiệm kia là −c/a. Hệ thức Vi-ét cho phép tính nhiều biểu thức đối xứng của x₁, x₂ (như x₁²+x₂², 1/x₁+1/x₂) mà không cần giải phương trình.