Đây là bản xem thử. Phiên bản đầy đủ trong ứng dụng có bài tập, AI chấm ngay và theo dõi tiến độ học.
Bài học
Hiện tượng phản xạ toàn phần
Mục tiêu bài học
Sau bài này, em nêu được điều kiện xảy ra phản xạ toàn phần, tính được góc tới hạn giữa hai môi trường cho trước, và phân biệt được phản xạ toàn phần với phản xạ một phần thông thường.
Kiến thức nền cần nhớ
Bài trước đã cho em thấy: khi ánh sáng đi từ môi trường chiết quang hơn ra môi trường kém chiết quang hơn và góc tới đủ lớn, phép tính có thể cho ra $\sin r$ vượt quá 1 — nghĩa là không còn tia khúc xạ nào tồn tại.
Mở rộng chương trình
Phản xạ toàn phần vẫn là nội dung optional beyond-grade extension — thuộc chương trình Vật lí 11 — nhưng là hệ quả trực tiếp của định luật khúc xạ em vừa học, và giải thích được rất nhiều hiện tượng quen thuộc trong đời sống.
Khởi động
Người thợ lặn nhìn lên mặt nước từ dưới sâu đôi khi thấy cả mặt nước sáng như một tấm gương, phản chiếu rõ đáy hồ, thay vì nhìn xuyên được ra bầu trời. Vì sao mặt nước lại biến thành gương trong tình huống này?
Kiến thức trọng tâm
**Phản xạ toàn phần** là hiện tượng ánh sáng truyền từ môi trường chiết quang hơn sang môi trường kém chiết quang hơn, khi góc tới đạt tới hoặc vượt quá một giá trị gọi là **góc tới hạn** $i_{gh}$, không còn tia khúc xạ nào ló ra khỏi mặt phân cách nữa — toàn bộ năng lượng ánh sáng bị phản xạ trở lại môi trường ban đầu.
Điều kiện để xảy ra phản xạ toàn phần gồm hai vế, thiếu một vế đều không được: (1) ánh sáng phải truyền từ môi trường chiết quang hơn ($n_1$) sang môi trường kém chiết quang hơn ($n_2 < n_1$); (2) góc tới $i$ phải lớn hơn hoặc bằng góc tới hạn $i_{gh}$.
Góc tới hạn được tính từ chính định luật khúc xạ, xét trường hợp riêng khi tia khúc xạ đi sát mặt phân cách, tức $r = 90°$: $n_1 \sin i_{gh} = n_2 \sin 90° = n_2$, suy ra $\sin i_{gh} = \dfrac{n_2}{n_1}$. Công thức này chỉ có nghiệm khi $n_2 < n_1$ — đúng với điều kiện (1) ở trên; nếu $n_2 \geq n_1$ thì $\sin i_{gh} \geq 1$, vô nghiệm, nghĩa là không tồn tại phản xạ toàn phần theo chiều đó.
Có thể hình dung phản xạ toàn phần như một "cửa sổ" hẹp dần: với góc tới nhỏ, phần lớn ánh sáng vẫn thoát ra được qua mặt phân cách (kèm một phần nhỏ phản xạ, như mọi mặt phân cách khác); góc tới càng tăng, cửa sổ khúc xạ càng hẹp lại, cho tới đúng góc tới hạn thì cửa sổ đóng hẳn — mọi tia sáng từ góc đó trở đi đều bị dội ngược lại.
Khi i vượt quá góc tới hạn igh, toàn bộ ánh sáng bị phản xạ trở lại môi trường ban đầu, không còn tia khúc xạ
Ví dụ
Tính góc tới hạn giữa nước và không khí
1
Ánh sáng truyền trong nước ($n_1 = 1{,}33$) tới mặt phân cách với không khí ($n_2 = 1$). Tính góc tới hạn $i_{gh}$.
2
Vì $n_2 = 1 < n_1 = 1{,}33$ (TMĐK để tồn tại phản xạ toàn phần), ta có $\sin i_{gh} = \dfrac{n_2}{n_1} = \dfrac{1}{1{,}33}$.
3
$\sin i_{gh} \approx 0{,}752$.
4
$i_{gh} = \arcsin(0{,}752) \approx 48{,}8°$.
5
Vậy $i_{gh} \approx 48{,}8°$: với mọi góc tới từ nước ra không khí lớn hơn giá trị này, ánh sáng sẽ bị phản xạ toàn phần, không còn tia khúc xạ ra ngoài.
Ví dụ
Giải thích hiện tượng thợ lặn nhìn thấy mặt nước như gương
1
Một người đứng ở đáy bể bơi sâu, nhìn lên mặt nước theo một góc rất xiên (góc tới khoảng 60° so với phương thẳng đứng). Biết góc tới hạn nước – không khí là khoảng 48,8°, hãy giải thích tại sao ở góc nhìn này người đó không thấy bầu trời mà chỉ thấy phản chiếu của đáy bể.
2
Ta có góc tới lúc này là 60°, lớn hơn góc tới hạn 48,8°.
3
Do ánh sáng đang truyền từ nước (chiết quang hơn) ra không khí (kém chiết quang hơn) với góc tới lớn hơn góc tới hạn, nên xảy ra phản xạ toàn phần: không có tia sáng nào từ bầu trời khúc xạ tới được vị trí đó của mặt nước để truyền tiếp xuống mắt người quan sát theo hướng ngược lại.
4
Vậy tại các góc nhìn xiên lớn hơn góc tới hạn, mặt nước hoạt động như một tấm gương, phản chiếu lại hình ảnh đáy bể hoặc thành bể thay vì cho phép nhìn xuyên ra bầu trời — đúng như hiện tượng nêu ở phần khởi động.
Sai lầm thường gặp
Học sinh hay áp dụng nhầm công thức góc tới hạn khi ánh sáng đi ngược chiều — từ môi trường kém chiết quang sang môi trường chiết quang hơn. Trường hợp đó KHÔNG tồn tại phản xạ toàn phần, vì $\sin i_{gh} = n_2/n_1$ sẽ lớn hơn 1, vô nghiệm.
Luyện tập có hướng dẫn
Luyện tập độc lập
Kiểm tra nhanh
Ghi nhớ
Phản xạ toàn phần: xảy ra khi ánh sáng đi từ môi trường chiết quang hơn ra môi trường kém chiết quang hơn VÀ góc tới ≥ góc tới hạn ($\sin i_{gh} = n_2/n_1$). Khi đó 100% ánh sáng bị phản xạ lại, không còn tia khúc xạ.
Bài tiếp theo chuyển từ hiện tượng vật lí sang ứng dụng thực tế: cáp quang, kim cương lấp lánh, và ảo ảnh trên đường nhựa nóng — tất cả đều là phản xạ toàn phần đang hoạt động.
Bài trước đã cho em thấy: khi ánh sáng đi từ môi trường chiết quang hơn ra môi trường kém chiết quang hơn và góc tới đủ lớn, phép tính có thể cho ra sinr vượt quá 1 — nghĩa là không còn tia khúc xạ nào tồn tại.
Phản xạ toàn phần là hiện tượng ánh sáng truyền từ môi trường chiết quang hơn sang môi trường kém chiết quang hơn, khi góc tới đạt tới hoặc vượt quá một giá trị gọi là góc tới hạnigh, không còn tia khúc xạ nào ló ra khỏi mặt phân cách nữa — toàn bộ năng lượng ánh sáng bị phản xạ trở lại môi trường ban đầu.
Điều kiện để xảy ra phản xạ toàn phần gồm hai vế, thiếu một vế đều không được: (1) ánh sáng phải truyền từ môi trường chiết quang hơn (n1) sang môi trường kém chiết quang hơn (n2<n1); (2) góc tới i phải lớn hơn hoặc bằng góc tới hạn igh.
Góc tới hạn được tính từ chính định luật khúc xạ, xét trường hợp riêng khi tia khúc xạ đi sát mặt phân cách, tức r=90°: n1sinigh=n2sin90°=n2, suy ra sinigh=n1n2. Công thức này chỉ có nghiệm khi n2<n1 — đúng với điều kiện (1) ở trên; nếu n2≥n1 thì sinigh≥1, vô nghiệm, nghĩa là không tồn tại phản xạ toàn phần theo chiều đó.
Có thể hình dung phản xạ toàn phần như một "cửa sổ" hẹp dần: với góc tới nhỏ, phần lớn ánh sáng vẫn thoát ra được qua mặt phân cách (kèm một phần nhỏ phản xạ, như mọi mặt phân cách khác); góc tới càng tăng, cửa sổ khúc xạ càng hẹp lại, cho tới đúng góc tới hạn thì cửa sổ đóng hẳn — mọi tia sáng từ góc đó trở đi đều bị dội ngược lại.
Ánh sáng truyền trong nước (n1=1,33) tới mặt phân cách với không khí (n2=1). Tính góc tới hạn igh.
Vì n2=1<n1=1,33 (TMĐK để tồn tại phản xạ toàn phần), ta có sinigh=n1n2=1,331.
sinigh≈0,752.
igh=arcsin(0,752)≈48,8°.
Vậy igh≈48,8°: với mọi góc tới từ nước ra không khí lớn hơn giá trị này, ánh sáng sẽ bị phản xạ toàn phần, không còn tia khúc xạ ra ngoài.
Học sinh hay áp dụng nhầm công thức góc tới hạn khi ánh sáng đi ngược chiều — từ môi trường kém chiết quang sang môi trường chiết quang hơn. Trường hợp đó KHÔNG tồn tại phản xạ toàn phần, vì sinigh=n2/n1 sẽ lớn hơn 1, vô nghiệm.
Phản xạ toàn phần: xảy ra khi ánh sáng đi từ môi trường chiết quang hơn ra môi trường kém chiết quang hơn VÀ góc tới ≥ góc tới hạn (sinigh=n2/n1). Khi đó 100% ánh sáng bị phản xạ lại, không còn tia khúc xạ.